Tác giả: Đức Hùng & Vân Quỳnh
Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa và Ứng dụng
Tóm tắt: Bài viết mô tả văn bản và phân tích đối chiếu, so sánh ba tư liệu Hán Nôm (khoa cúng tổ chùa Linh Quang), một bản chép trên phôi giấy dùng để khắc mộc bản Đại Bảo Tích Kinh, bản Linh Quang thiền phả (1922) và bản Linh Quang cúng tổ sư khoa (1958).
Nghiên cứu chỉ ra tính chất phức hợp của nguồn tư liệu này khi kết hợp giữa khoa nghi cúng tổ, hành trạng thiền phả và sao lục bi ký.
Qua việc so sánh ưu và nhược điểm trên quan điểm, góc nhìn khai thác thông tin về truyền thừa, lịch sử chùa, hành trạng tổ sư và các ghi chép bi ký liên quan.
Từ khóa: Linh Quang tự, chùa Bà Đá, Thiền phả
Lời dẫn: Bài viết là thao tác sưu tầm, mô tả, so sánh đối chiếu văn bản (thao tác khảo dị và văn bản học Hán Nôm một cách cơ bản nhất) các dị bản mà chúng tôi gọi một cách tổng quan là “khoa cúng”.
Một là khai thác thông tin phục vụ tư liệu tham khảo cho việc biên soạn sách Chùa Bà Đá với Thăng Long - Hà Nội sắp ra mắt; Hai là đưa vào nội dung phần Di văn Hán Nôm của cuốn sách cùng tên.
Ba bản khoa cúng tổ
Ba văn bản Hán văn khoa cúng tổ này, chúng tôi lần lượt quy ước ký hiệu là A, B, C. Bản A chúng tôi có được trong quá trình sưu tầm tư liệu tại bản chùa; bản B do Hòa thượng Thích Thanh Ninh chùa Quán Sứ cung cấp bản; bản C do Thượng tọa Thích Tâm Hoan chùa Hòe Nhai cung cấp.
Bản A
Tình trạng văn bản
Văn bản không ghi tác giả biên soạn, hay người sao chép.
Văn bản chép tay, chữ viết theo lối chữ khải lẫn hành thảo, có cú đậu rõ ràng. Đặc biệt giấy dùng để viết, dựa vào những ký hiệu, dòng chữ in ẩn mờ bên dưới giấy, theo chúng tôi nhận định đây là giấy dùng để khắc in “phủ bản” bộ Đại Bảo Tích Kinh (Bộ kinh được khắc ván hoàn thiện vào giai đoạn những năm khoảng 1926 đến 1929. Chùa hiện còn lưu giữ được khá đầy đủ và toàn vẹn bộ ván, cũng như sách đã được in ra từ ván). Cỡ chữ và khoảng cách chữ, cơ bản cũng gần với định dạng khắc chữ để in ván. Tức là một mặt ván gồm 10 hàng, mỗi hàng 20 ô vuông. Đánh số trang khi viết cũng giống như khi viết để khắc ván, tức là đánh số trang cho một tờ đôi. Về mặt hình thức trình bày, cơ bản có những quy ước như một bản Hán văn thông thường, ví dụ như: viết đài, viết cách, kiêng húy, các đoạn văn biền ngẫu, thơ, kệ có chia đoạn, có đồ, di, câu, cải. Tổng số trang 31 trang kép (trang của giấy in mộc bản).
Nội dung cơ bản
Linh Quang tự cúng tôn sư khoa
Phần thứ nhất, là Linh Quang tự cúng đệ nhất tổ sư khoa
Cúng tổ đời thứ nhất (tổ Khoan Giai). Khoa gồm các phần hương tán, cử tán, phụng tống văn, các đường thỉnh về các môn đệ của tổ, phổ thỉnh đến các tùng lâm pháp lữ.
Khoa cúng tổ đời thứ hai Diệu Quang tháp Giác Viên thiền sư. Các đường thỉnh gồm, hương tán, phổ thỉnh.
Khoa thỉnh cúng đến tổ đời thứ ba Minh Chính tháp (Phổ Sỹ thiền sư). Các đường thỉnh, về ý nghĩa cũng giống như tổ đời thứ tư ở trước, như phần tán hương, phần phổ thỉnh đến các chúng đệ tử, thiền lâm đệ tử.
Khoa thỉnh cúng tổ thứ tư chùa Linh Quang - Hương Quang tháp (Thông Toàn thiền sư). Khoa gồm các phần hương tán, cử tán, phụng tống văn, các đường thỉnh về các môn đệ của tổ, phổ thỉnh đến các tùng lâm pháp lữ.
Phần thứ hai, ghi chép văn bia của chùa. Gồm 7 bia, các bia đều không ghi nhan đề. Niên đại các bia như sau: 1) tháng 11 năm thứ 5 niên hiệu Thiệu Trị (1845); 2) tháng 7 năm thứ 13 niên hiệu Minh Mệnh (1832); 3) tháng 9 năm thứ 18 niên hiệu Minh Mệnh (1837); 4) năm thứ nhất niên hiệu Khải Định (1916); 5) tháng 11 năm thứ 2 niên hiệu Minh Mệnh (1821); 6) tháng 9 năm thứ 7 niên hiệu Minh Mệnh (1826); 7) năm thứ 6 niên hiệu Thành Thái (1894).
Phần thứ ba, chùa Bà Đá cúng giác linh khoa.
Tiểu kết: Nội dung ghi chép trong văn bản A gồm 3 phần chính, cúng tổ khoa gồm khoa cúng từ tổ đời thứ nhất, lần lượt đến tổ đời thứ tư. Đặc điểm chung của các khoa cúng, đường thỉnh, về cơ bản đều thống nhất gồm, hương tán, phổ thỉnh. Phần 2, ghi chép lại nội dung 7 văn bia của chùa. Cả 7 văn bia được chép này đều có nội dung viết về lịch sử của chùa. Trong đó 4 bia cũng được chép ở bộ thiền phả chúng tôi ký hiệu là C (3 bia còn lại chúng tôi đọc, khai thác thông tin thêm để viết sách).
Phần 3 khoa cúng giác linh. Ưu điểm: Trọng tâm ở khoa cúng, văn chương khoa cúng tổ. Nhược điểm: Cung cấp hạn chế tư liệu thông tin cho việc phục vụ viết sách.
Bản B
Tình trạng văn bản
Linh Quang thiền phả (chữ đề khổ lớn đặt ở đầu văn bản). Người sao chép: Thích Thông Tiến[1] sao. Niên đại: Tháng 3 năm Nhâm Tuất niên hiệu Khải Định (1922). Tổng số trang 27 trang. Chất liệu giấy: Giấy bản, không kẻ dòng và khung lề sách. Số dòng chiếm tỷ lệ lớn là 8 dòng, trung bình khoảng 19 chữ trên một dòng, sách khâu cố định bằng chỉ. Văn bản viết tay chữ chính khải phồn thể, thi thoảng có chữ tục tự, và chữ giản thể, có cú đậu, viết đài, đặc biệt có gia thêm một số ký hiệu dấu câu (dấu ngoặc kép) theo cách dùng dấu chế bản hiện đại của Đài Loan.
Nội dung cơ bản
Phần thứ nhất: Ghi khái quát về sự truyền thừa đạo thống từ Phật Thích Ca truyền tâm ấn cho ngài Ma Ha Ca Diếp, và luận sơ lược về ngũ gia tông phái (việc hình thành và phân phái của ngũ gia tông phái). Tiếp mạch viết về gốc truyền thừa đến thủy tổ của chùa Linh Quang. Ghi bài kệ 48 chữ truyền thừa của tông Lâm Tế của tổ Bích Phong; và bài kệ 28 chữ truyền thừa của tông Tào Động của Nhất Cú Trí Giáo Thiền sư.
Phần thứ hai: Lần lượt chép về hành trạng, đạo hạnh, sự truyện của các đời tổ, từ tổ thứ nhất đến tổ thứ năm của chùa Linh Quang.
Phần thứ ba: Ghi chép về nội dung 2 văn bia: Các bia lần lượt có các niên đại như sau: 1) Năm Canh Tuất - năm thứ 3 niên hiệu Tự Đức (1850), bia không ghi nhan đề. 2) bia ghi chép về chùa Càn Đà, tiêu đề bia: Nguyên Hà Nội tỉnh, Hoài Đức phủ, Thọ Xương huyện, Kim Liên tổng, Thịnh An thôn, Càn Đà tự trùng tu bi ký. Niên đại: tháng 3 năm Nhâm Tuất niên hiệu Khải Định (1922).
Tiểu kết: Văn bản B tổng số trang 27, nội chung chính là khoa cúng tổ, và có ghi phụ thêm 2 văn bia, trong đó lại có một bia ghi thông tin về chùa Càn Đà. Ưu điểm: Nội dung chính là khoa cúng tổ, ghi phụ thêm 2 văn bia, nhưng lại 1 bia thuộc chùa Càn Đà; Nhược điểm: cung cấp hạn chế thông tin về truyền thừa, sử chùa,v.v.
Bản C
Tình trạng văn bản
Văn bản chép tay, tổng 97 trang. Niên đại: mùa Xuân năm Mậu Tuất - năm thứ 14 thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1958). Về mặt hình thức, văn bản có hai phần khác nhau, phần đầu từ trang 1 đến hết trang 61, viết cỡ chữ to, có kẻ dòng 10 dòng/ trang nhưng chữ viết to (1 dòng chữ trong 2 dòng kẻ), số chữ tối đa trên một dòng là 11. Phần còn lại, (từ trang 62 đến trang 97), Kẻ dòng trang giấy 10 dòng/ trang, chữ viết tương đương theo dòng, trung bình khoảng 17, 18 chữ/ dòng. Chữ viết theo thể chữ khải, to rõ ràng, thi thoảng có song cước chú hoặc phụ chú, biên chú, có dấu khuyên ngừng ngắt theo mạch văn.
Nội dung cơ bản
Phần thứ nhất: (từ trang 1 đến hết trang 61) Ghi hoàn chỉnh khoa cúng tổ, nhan đề ghi Linh Quang cúng tổ sư khoa. Khoa cúng phổ thỉnh từ 28 vị tổ Tây Thiên, 6 tổ bên cõi Đông độ, cho đến các vị tổ của ngũ gia tông phái. Thỉnh khắp “Tây Thiên, Đông Độ, Nam Việt tổ sư chư vị Bồ tát”. Và phần khoa cúng thỉnh các vị tổ, lần lượt từ Tổ thứ nhất cho đến Tổ thứ năm của chùa Linh Quang.
Phần thứ hai: (từ trang 62 đến hết). Gồm các nội dung chính như sau: Lược soạn Linh Quang tự Thiền phả, nội dung cơ bản giống phần khoa cúng của văn bản B. “Phần một, ghi khái quát về sự truyền thừa đạo thống từ Phật Thích Ca truyền tâm ấn cho ngài Ma Ha Ca Diếp, và luận sơ lược về ngũ gia tông phái (việc hình thành và phân phái của ngũ gia tông phái). Tiếp mạch viết về gốc truyền thừa đến thủy tổ của chùa Linh Quang. Ghi bài kệ 48 chữ truyền thừa của tông Lâm Tế của tổ Bích Phong; và bài kệ 28 chữ truyền thừa của tông Tào Động của Nhất Cú Trí Giáo thiền sư. Phần hai, lần lượt chép về hành trạng, đạo hạnh, sự truyện của các đời tổ, từ Tổ thứ nhất đến Tổ thứ năm của chùa Linh Quang.”
Đặc biệt, ở phần này có các ghi chép những nội dung quan trọng sau: “cung lục Bản Lai Hòa thượng đạo hiệu, tịnh sắc văn/ cung kính sao chép đạo hiệu của Bản Lai Hòa thượng, cùng với sắc văn”; “phụng sao Bà Đá Linh Quang tự, tiền hậu chư tổ tạo bi đẳng văn vu hậu/ vâng sao chép lại các bài văn tạo bia của chư tổ trước sau của chùa Linh Quang - Bà Đá” phần này chép nội dung gồm 3 văn bia, không ghi nhan đề bia, với niên đại như sau: 1) tháng 11, năm thứ 2 niên hiệu Minh Mệnh (1921); 2) tháng 4 năm Canh Tuất - năm thứ 3 niên hiệu Tự Đức (1850); 3) tháng 8 năm Mậu Ngọ - năm thứ 3 niên hiệu Khải Định (1918); “ Phụ lục Hà thành Linh Quang sơn môn thục lai Liên Phái tự chi nguyên nhân/ ghi chép phụ thêm về nguyên nhân sơn môn chùa Linh Quang chuộc lại chùa Liên Phái”; “tường sao ngũ gia tông phái thi/ ghi chép rõ ràng bài thơ về ngũ gia tông phái”; “tường sao Tam giáo thánh nhân xuất thế thi/ sao chép rõ ràng bài thơ về Tam giáo thánh nhân”.
Tiểu kết: Văn bản C có dung lượng lớn nhất, chữ viết rõ nét, niên đại có tính chính xác, và có lẽ cũng là gần đây nhất so với hai văn bản A và B. Nội dung thông tin góp phần quan trọng về mặt tư liệu để góp phần hiểu về lịch sử, cũng như sự truyền đăng, sự tích của chùa. Ưu điểm: Nội dung phong phú hơn hai bản A và B, có ghi thêm nhiều thông tin về truyền thừa, sử chùa, hành trạng tổ sư. Ghi chép những thông tin mà 2 bản A và B không có.
Bảng thống kê so sánh






Kết luận
Qua mô tả, so sánh đối chiếu 3 bản A, B và C như trên đã trình bày, chúng tôi đưa ra những nhận định như sau:
Ba bản Khoa cúng tổ chùa Linh Quang (Bà Đá) là tư liệu Hán Nôm vô cùng quý giá, phản ánh lịch sử truyền thừa, hành trạng, đạo hạnh của chư tổ chốn tổ Bà Đá qua các thời kỳ. Mỗi bản có một đặc điểm tương đồng và dị biệt biệt: Điểm chung, trọng tâm nhất là phần Khoa cúng thỉnh chư tổ; điển di biệt: Bản A mang dấu tích thời kỳ khắc ván in kinh tại chùa, bản B tập chung vào nội dung chính là khoa cúng tổ, bản C cung cấp thông tin đa dạng và rất cần thiết cho việc hiểu về truyền thừa, lịch sử chùa.
Căn cứ vào kết quả như phân tích, trình bày như trên, chúng tôi lựa chọn văn bản C làm bản nền để chế bản chữ Hán, phiên âm dịch nghĩa (phần thiền phả) để đưa vào phần Di văn Hán Nôm của cuốn sách Chùa Bà Đá với Thăng Long Hà Nội.
Việc khảo dị ba văn bản này không chỉ giúp tìm hiểu về lịch sử chùa, hành trạng chư tổ, sự tích của chùa, mà còn đóng góp tư liệu quan trọng cho lịch sử Phật giáo Thăng Long - Hà Nội.
Tác giả: Đức Hùng & Vân Quỳnh
Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa và Ứng dụng
***
Chú thích:
[1] Cố Đại lão Hòa thượng Thích Thông Tiến (1889 - 1986), Bậc cao tăng từng Trụ trì tại Đại Dương Sùng Phúc tự (chùa Sủi, Gia Lâm Hà Nội).
Tài liệu tham khảo:
1. Thích Thọ Lạc - Chu Văn Tuấn (Đồng chủ biên), 2020, Thiền phái Tào Động ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội.
2. Ngô Đức Thọ (1997), Chữ húy Việt Nam qua các triều đại, Nxb Văn hóa.
3. Viện Khoa học xã hội Việt Nam (1998), Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, Nội các quan bản, Hoàng Văn Lâu dịch và chú thích - Hà Văn Tấn hiệu đính, Nxb Khoa học xã hội.






Bình luận (0)