Tóm tắt: Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ X (nhiệm kỳ 2026–2031) diễn ra trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới và cũng là thời điểm Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) long trọng kỷ niệm 45 năm ngày thành lập (07/11/1981 - 07/11/2026), đánh dấu chặng đường lịch sử đầy ý nghĩa.
Dấu mốc 45 năm không chỉ là dịp nhìn lại quá trình hình thành và phát triển của Giáo hội mà còn là thời điểm xác lập những định hướng chiến lược mới, đặc biệt trong lĩnh vực đối ngoại Phật giáo, góp phần nâng cao vị thế PGVN trên trường quốc tế, đóng góp tích cực vào đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước với vai trò của tôn giáo ngày càng được khẳng định là một nguồn lực xã hội quan trọng.
Kể từ khi thành lập, GHPGVN từng bước mở rộng quan hệ, tham gia nhiều diễn đàn và tổ chức Phật giáo quốc tế, chủ động đóng góp vào các vấn đề toàn cầu, đối thoại liên tôn giáo, đạo đức xã hội và phát triển bền vững.
Bài viết này nêu rõ sự kế tục và mở rộng quan hệ đối ngoại, những đóng góp tích cực cho đối ngoại đất nước và cộng đồng Phật giáo quốc tế; từ đó, nhận định nguồn lực tôn giáo và định hướng phát triển đối ngoại Phật giáo trong giai đoạn mới, phù hợp với định hướng phát huy nguồn lực tôn giáo hiện nay.
Từ khóa: Giáo hội Phật giáo Việt Nam, đối ngoại Phật giáo, nguồn lực tôn giáo, định hướng chiến lược, phát triển bền vững
1. Kế tục và mở rộng quan hệ đối ngoại với cộng đồng Phật giáo thế giới
Trong suốt 45 hình thành và phát triển, Giáo hội luôn kiên định phương châm: “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”. Đây là sự kết tinh giữa truyền thống yêu nước của PGVN với tinh thần nhập thế, đồng hành cùng dân tộc trong mọi giai đoạn phát triển của đất nước.
Bên cạnh những thành tựu trong nước, GHPGVN đã từng bước mở rộng quan hệ quốc tế, góp phần giới thiệu hình ảnh đất nước Việt Nam yêu chuộng hòa bình, giàu bản sắc văn hóa và có đời sống tôn giáo ổn định, cởi mở.
Việt Nam nhiều lần đăng cai thành công Đại lễ Vesak Liên Hợp Quốc đã khẳng định năng lực tổ chức, uy tín và vị thế ngày càng cao của GHPGVN trong cộng đồng Phật giáo thế giới. Song hành với tiến trình hội nhập quốc tế của đất nước, công tác đối ngoại Phật giáo đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, đã kế tục và mở rộng quan hệ đối ngoại với cộng đồng Phật giáo thế giới.






2. Đối ngoại Phật giáo đóng góp cho đất nước và cộng đồng Phật giáo quốc tế
Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, một thực thể xã hội luôn tác động đến xã hội, do đó, đối ngoại Phật giáo đã đóng góp tích cực cho đối ngoại Việt Nam, bởi Phật giáo là một nguồn lực [2] tôn giáo lớn hiện nay. “Tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng là một nguồn lực xã hội, đặc biệt ở Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay thì nguồn lực Phật giáo càng thể hiện rõ tiềm năng của mình”[3]. Trong bối cảnh quốc tế mới việc đặt ra vấn đề “chủ động”, “tích cực” và “có trách nhiệm” trong bối cảnh đối ngoại Việt Nam hiện nay là hoàn toàn hợp lý và kịp thời.
Nhiều năm qua, thực hiện chính sách của Nhà nước về công tác Việt kiều là luôn quan tâm tới cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, coi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam, GHPGVN đã thành lập các tổ chức cơ sở, hình thành Hội Phật tử Việt Nam ở nước ngoài nhằm thực hiện sự nghiệp chăm lo cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
Các chuyến hoằng pháp của GHPGVN tại hải ngoại đã hướng bà con về với cội nguồn tổ tiên, quê hương đất nước thông qua các hoạt động Phật sự có ích, các sinh hoạt văn hóa, lễ hội, công tác từ thiện xã hội.
Từ đây, có thể khẳng định, đối ngoại nhân dân qua hình ảnh Phật giáo, góp phần nâng cao hình ảnh và vị thế quốc tế của Việt Nam trong quan hệ quốc tế, “cùng với các cơ quan chuyên trách của đối ngoại Đảng và ngoại giao Nhà nước đã tích cực đẩy mạnh toàn diện các hoạt động, góp phần làm nên những thành tựu đáng ghi nhận của nền ngoại giao nước nhà, đóng góp vào sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước, nâng cao hình ảnh và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế”[4]. Đồng thời, cũng có thể nêu ra những đóng góp của GHPGVN đối với cộng đồng Phật giáo quốc tế.
Thứ nhất, tính kế thừa và phát triển PGVN đương đại. Tham gia vào các tổ chức Phật giáo quốc tế nhằm thúc đẩy giáo dục - hoằng pháp và đóng góp cho hòa bình nhân loại, không chỉ mang ý nghĩa lịch sử, mà còn tiếp tục được kế thừa và hiện thực hóa trong bối cảnh PGVN đương đại. Trong tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam từ cuối thế kỷ XX đến nay, PGVN ngày càng tham gia tích cực vào các diễn đàn Phật giáo khu vực và toàn cầu một cách chính danh; kết nối hoạt động Phật sự trong nước với các mục tiêu chung của Phật giáo toàn cầu và góp phần chuyển hóa PGVN từ không gian quốc gia sang không gian Phật giáo xuyên quốc gia.
Thứ hai, PGVN tham gia các đại hội, hội nghị đã giới thiệu hình ảnh PGVN gắn với truyền thống nhập thế, hộ quốc an dân và hòa bình và góp phần vào ngoại giao văn hóa và ngoại giao tôn giáo của Việt Nam. PGVN không chỉ là đối tượng tiếp nhận, mà ngày càng trở thành chủ thể tham gia và đóng góp vào các vấn đề chung của Phật giáo thế giới, đặc biệt trong các lĩnh vực hòa bình, đạo đức xã hội và đối thoại liên tôn.
Thứ ba, kết nối mục tiêu giáo dục - hoằng pháp. Mục tiêu thúc đẩy giáo dục và nghiên cứu Phật học có ý nghĩa thiết thực đối với PGVN đương đại trong bối cảnh nhu cầu chuẩn hóa và quốc tế hóa giáo dục Phật học, sự gia tăng giao lưu học thuật và đào tạo tăng - ni ở nước ngoài, yêu cầu đối thoại giữa Phật giáo và khoa học, nhân văn hiện đại, tham gia mạng lưới nghiên cứu Phật học quốc tế, nâng cao năng lực học thuật, dịch thuật và giảng dạy.
Thứ tư, ý nghĩa hòa bình và Phật giáo nhập thế trong bối cảnh Việt Nam đương đại. Trong PGVN đương đại, tinh thần này được thể hiện qua các hoạt động xã hội, từ thiện, nhân đạo, tham gia đối thoại tôn giáo và văn hóa và góp phần xây dựng đạo đức xã hội và lối sống chánh niệm.
Các tổ chức Phật giáo quốc tế đã cung cấp một khung tham chiếu để PGVN triển khai Phật giáo nhập thế không chỉ trong phạm vi quốc gia, mà còn trong bối cảnh toàn cầu, qua đó khẳng định tính thời đại của PGVN.
Thứ năm, các tổ chức Phật giáo quốc tế như là kênh đối ngoại tôn giáo đa phương của PGVN. Một trong những đặc điểm nổi bật của hoạt động đối ngoại PGVN trong thế kỷ XXI là sự chuyển dịch từ quan hệ song phương sang ngoại giao tôn giáo đa phương. Việc tham dự vào các tổ chức Phật giáo quốc tế cho phép PGVN giao lưu đồng thời với nhiều tổ chức Phật giáo, tham gia xây dựng đồng thuận chung của Phật giáo thế giới. Đồng thời, nâng cao năng lực “đối ngoại mềm” của PGVN qua việc chuyển tải hình ảnh PGVN gắn với hòa bình, từ bi và nhập thế, góp tiếng nói vào các vấn đề đạo đức toàn cầu, tăng cường uy tín quốc tế của PGVN.
3. Từ nhận định nguồn lực tôn giáo đến định hướng phát triển đối ngoại Phật giáo trong giai đoạn mới
3.1 Từ nhận định nguồn lực tôn giáo theo định hướng phát triển của nhà nước
Trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII, phần xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam, Đảng nêu rõ: “Phát huy các nhân tố tích cực, nhân văn trong các tôn giáo, tín ngưỡng…”[5] và “… Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự phát triển đất nước.”[6]. Trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, nguồn lực tôn giáo cần được nhận diện rõ ràng và phát huy hiệu quả để trở thành động lực nội sinh quan trọng trong quá trình phát triển xã hội.
Cho nên, nguồn lực tôn giáo trong phát triển xã hội là, thứ nhất, nguồn lực con người trong tôn giáo. Đây là một lực lượng có tính tổ chức cao, có niềm tin đạo đức sâu sắc, thường xuyên góp mặt trong các hoạt động giáo dục, y tế, từ thiện, bảo vệ môi trường và chăm sóc cộng đồng.
Triết học phát triển hiện đại cũng khẳng định rõ mục đích tối hậu của phát triển chính là vì con người, do vậy, phát huy tối đa năng lực con người, trong đó có lực lượng tôn giáo là điều kiện thiết yếu để xây dựng một xã hội tiến bộ, nhân văn.
Thứ hai, nguồn lực vật chất của tôn giáo. Các nghiên cứu xã hội học chỉ ra rằng, thiết chế vật chất của tôn giáo có những ưu điểm, như tính ổn định, khả năng tự duy trì và thích nghi tốt với các biến động xã hội. Các cơ sở do tổ chức tôn giáo quản lý có độ tin cậy lớn trong cộng đồng, chi phí vận hành thường thấp hơn so với các thiết chế hành chính nhà nước. Đặc biệt, các hoạt động từ thiện, cứu trợ và nhân đạo của các tổ chức tôn giáo diễn ra thường xuyên, hiệu quả và được cộng đồng đánh giá cao. Việc tận dụng và phát huy hiệu quả nguồn lực vật chất này không chỉ giảm áp lực cho hệ thống phúc lợi nhà nước mà còn tạo ra những giá trị cộng đồng bền vững, góp phần xây dựng một xã hội công bằng, nhân văn và giàu bản sắc dân tộc.
Thứ ba, nguồn lực tinh thần. Đây là dạng nguồn lực sâu sắc và đặc trưng nhất trong cấu trúc các nguồn lực của tôn giáo; là nền tảng để hình thành những giá trị sống và chuẩn mực đạo đức, giúp con người và cộng đồng định hướng hành vi, tìm kiếm ý nghĩa sống, vượt qua khó khăn và củng cố tinh thần đoàn kết trong các thời kỳ biến động. Các hoạt động tín ngưỡng như Phật Đản, Vu Lan, v.v., không chỉ là dịp thực hành tâm linh mà còn trở thành sự kiện văn hóa cộng đồng, góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, củng cố tinh thần đoàn kết, hòa hợp giữa các cộng đồng tín ngưỡng khác nhau. Ngoài ra, các hình thức sinh hoạt giáo dục phi chính thức, như: khóa tu, buổi giảng pháp, các lớp học giáo lý, câu lạc bộ sống đạo, các hội trại thanh niên… cũng là minh chứng cụ thể cho vai trò của nguồn lực tinh thần.
3.2 Định hướng phát triển đối ngoại Phật giáo trong giai đoạn mới
Thế giới đang bước vào kỷ nguyên chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, biến đổi khí hậu, già hóa dân số, dịch chuyển quyền lực toàn cầu và cạnh tranh về giá trị văn hóa. Bối cảnh đó đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với công tác đối ngoại Phật giáo, xây dựng chiến lược đối ngoại Phật giáo đến năm 2045 với tầm nhìn chủ động hội nhập, chuyên nghiệp hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế và gắn kết với chiến lược ngoại giao văn hóa quốc gia; cần chú trọng đào tạo Tăng Ni có năng lực ngoại ngữ, học thuật quốc tế, công nghệ số, truyền thông toàn cầu và kỹ năng đối thoại liên văn hóa và liên tôn giáo; cần hướng tới hình thành các trung tâm nghiên cứu Phật học quốc tế có uy tín khu vực, thúc đẩy công bố quốc tế, tổ chức hội thảo học thuật, hợp tác liên ngành và trao đổi học giả toàn cầu; và trong thời đại số, cần xây dựng nền tảng truyền thông đa ngôn ngữ, số hóa di sản Phật giáo, tăng cường hiện diện học thuật trực tuyến và phát triển “Phật giáo số” phục vụ cộng đồng quốc tế. Do đó:
Thứ nhất, tiếp tục đẩy mạnh hoạt động quốc tế Phật giáo trong việc giao lưu giáo dục, văn hoá, học thuật và các hoạt động từ thiện xã hội. Những đóng góp cho sự phát triển của dân tộc qua nhiều thời kỳ lịch sử đã tạo cho PGVN một vị trí đặc biệt trong tư tưởng và tình cảm không chỉ riêng của giới Phật giáo các nước mà còn đối với cả những hoạt động văn hoá hoặc tôn giáo bạn.
Hoạt động trao đổi văn hoá chính thức với các tổ chức giáo dục đại học tại Ấn Độ, trao đổi học thuật và hoạt động từ thiện xã hội với Phật tử Nhật Bản, Đài Loan,... đóng góp cho sự phát triển đồng đạo khắp năm châu, cũng như góp phần cho sự nghiệp hòa bình hợp tác và phát triển quan hệ quốc tế của Việt Nam.
Thứ hai, tạo điều kiện, quan tâm đến việc đào tạo một lớp Tăng, Ni sinh trẻ, giỏi về Phật học, có trình độ Đại học, có năng lực thiết thực áp dụng giáo lý đức, giỏi về sinh ngữ, có khả năng hoạt động quốc tế, có tinh thần dân tộc để có thể gánh vác những nhiệm vụ quốc tế. Đẩy mạnh các hoạt động quốc tế không riêng trong lãnh vực đấu tranh cho hòa bình mà còn mở rộng thêm trên các lãnh vực trao đổi văn hoá học thuật Phật giáo, xây dựng các dự án hợp tác giữa các Phật tử các nước với Việt Nam trên lĩnh vực từ thiện xã hội; và vận động tiếp tục các học bổng, đề cử các tăng, ni sinh xuất sắc, có khả năng có thể đi học thêm ở nước ngoài, vừa để trao đổi thêm các kinh nghiệm hoạt động quốc tế, vừa thuận tiện cho việc sử dụng các ngoại ngữ cần thiết.
Thứ ba, thành lập các nhóm chuyên môn để nghiên cứu tình hình Phật giáo trong và ngoài nước. Nâng cao sự hiểu biết các tổ chức Phật giáo bạn. Các vấn đề thời sự có liên quan đến Phật giáo phải có người nghiên cứu đầy đủ, như vấn đề đối ngoại, đạo đức môi sinh, xã hội, giáo dục, văn hoá, v.v. để Giáo hội có thể tham khảo, lập kế hoạch trong sinh hoạt quốc tế. Nâng cao kiến thức, kỹ năng về đối ngoại, tìm hiểu về Giáo hội, về tổ chức sinh hoạt, về các vấn đề thời sự.
Thứ tư, mở rộng các hoạt động đối ngoại đa phương theo định hướng ngoại giao nhân dân, ngoại giao văn hóa. Chủ động và tích cực trong quan hệ đối ngoại với các tổ chức Phật giáo và tổ chức tôn giáo thế giới. Tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị với cộng đồng Phật giáo thế giới, với Phật giáo các nước châu Á, các nước Asean. Chủ động tích cực tham gia với tư cách thành viên, thành viên sáng lập của các tổ chức Phật giáo quốc tế, góp phần tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu vì hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới. Thường xuyên trao đổi đoàn đi thăm các nước, tham gia hội thảo quốc tế, cũng như đón tiếp các phái đoàn quốc tế, các tổ chức Phật giáo và tổ chức tôn giáo thế giới, các hệ phái, truyền thống Phật giáo các nước.
Cuối cùng, đề xuất xây dựng chuyên ngành đào tạo cấp đại học: Quan hệ đối ngoại Phật giáo tại bốn học viện PGVN. Ngày nay, một nền giáo dục toàn diện tạo nên chất lượng giáo dục đáp ứng được nhu cầu phát triển cần tư duy và cách làm giáo dục phải theo kịp thời đại. Sự phát triển của khoa học và công nghệ thông tin làm cho thế giới ngày một “phẳng”, con người có điều kiện hòa nhập vào cộng đồng quốc tế. Cho nên, GHPGVN cần có chuyên ngành đào tạo mới, đáp ứng nhu cầu hội nhập theo sự phát triển. Vì ngành này sẽ đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng, có kiến thức và kỹ năng căn bản cũng như chuyên sâu về nghiên cứu quan hệ đối ngoại Phật giáo; cung cấp cho sinh viên bức tranh tổng quát về Phật giáo thế giới và các vấn đề về các tổ chức Phật giáo quốc tế trên nền tảng các kiến thức cơ sở về PGVN. Đây là một lối đi mới theo nhu cầu thực tế của Giáo hội trong các công tác đối ngoại, cũng như theo nhịp tiến về học thuật của thế giới đòi hỏi nền giáo dục Phật giáo cần trang bị để trao đổi học thuật mang tầm quốc tế mà chúng ta không bị thiếu thốn nhân lực khi tham gia vào môi trường quốc tế này.[7]
4. Kết luận
Với truyền thống “Hộ quốc an dân”, tinh thần nhập thế của PGVN đồng hành cùng dân tộc, GHPGVN sẽ tiếp tục nâng cao chất lượng công tác đối ngoại, mở rộng hợp tác quốc tế, phát huy sức mạnh của ngoại giao văn hóa và ngoại giao nhân dân, góp phần xây dựng một nền hòa bình bền vững, tăng cường tình hữu nghị giữa các dân tộc, đồng thời đóng góp tích cực vào sự phát triển phồn vinh, hạnh phúc của Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Trải qua hơn bốn thập niên phát triển, GHPGVN đã từng bước khẳng định vai trò và vị thế trong cộng đồng Phật giáo thế giới thông qua các hoạt động hợp tác, đối thoại và đóng góp cho hòa bình, phát triển bền vững và giao lưu văn hóa quốc tế. Việc tham gia tích cực vào các tổ chức Phật giáo quốc tế đã cho thấy PGVN không chỉ là chủ thể tiếp nhận mà còn là chủ thể đóng góp vào đời sống Phật giáo toàn cầu. Trong giai đoạn mới, để nâng cao hiệu quả đối ngoại Phật giáo, GHPGVN cần tiếp tục đổi mới tư duy hội nhập, chuyên nghiệp hóa nguồn nhân lực, đẩy mạnh học thuật quốc tế và phát triển ngoại giao văn hóa số. Đây không chỉ là yêu cầu phát triển của Giáo hội mà còn là trách nhiệm góp phần lan tỏa giá trị nhân văn, hòa bình và trí tuệ của PGVN trong thế kỷ XXI.
Tác giả: TT TS Thích Thanh Tâm [1]
Phó Trưởng Phân ban Ấn Độ - Tây Nam Á, Ban Phật giáo Quốc tế - GHPGVN
***
Tài liệu tham khảo:
1] Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật
3] Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam (2016), Giáo hội Phật giáo Việt Nam: 35 năm hình thành và phát triển, Nxb. Hồng Đức.
4] Bùi Thanh Hà, Định hướng phát huy nguồn lực tôn giáo trong phát triển đất nước, http://hdll.vn/vi/nghien-cuu---trao-doi/dinh-huong-phat-huy-nguon-luc-ton-giao-trong-phat-trien-dat-nuoc.html
5] Đỗ Quang Hưng, Từ sự đổi mới nhận thức đến sự đổi mới về Chính sách Tôn giáo, http://btgcp.gov.vn/Plus.aspx/vi/News/38/0/240/0/1081/Tu_su_doi_moi_nhan_ thuc_den_su_doi_moi_ve_Chinh_sach_Ton_giao
6] Đôn Tuấn Phong, Đối ngoại nhân dân góp phần nâng cao hình ảnh và vị thế quốc tế của Việt Nam, http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Doi-ngoai-va-hoi-nhap/2019/54845/Doi-ngoai-nhan-dan-gop-phan-nang-cao-hinh-anh-va-vi.aspx
7] Thích Thanh Tâm (2019), Phật học Việt Nam thời hiện đại: Xây dựng chuyên ngành quan hệ đối ngoại phật giáo, https://thuvienhoasen.org/a34977/phat-hoc-viet-nam-thoi-hien-dai-xay-dung-chuyen-nganh-quan-he-doi-ngoai-phat-giao
Chú thích:
[1] Tiến sĩ Quốc tế học, chuyên ngành Quan hệ đối ngoại
[2] Nguồn lực là “Tổng thể lực lượng vật chất và tinh thần được sử dụng hoặc có khả năng sử dụng để phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia.” [Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam (2016), Giáo hội Phật giáo Việt Nam: 35 năm hình thành và phát triển, Nxb. Hồng Đức, tr. 195.]
[3] Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam (2016), tài liệu đã dẫn, tr. 195.
[4] Đôn Tuấn Phong, Đối ngoại nhân dân góp phần nâng cao hình ảnh và vị thế quốc tế của Việt Nam, http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Doi-ngoai-va-hoi-nhap/2019/54845/Doi-ngoai-nhan-dan-gop-phan-nang-cao-hinh-anh-va-vi.aspx
[5] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 144
[6] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 171
[7] Xem thêm Thích Thanh Tâm (2019), Phật học việt nam thời hiện đại: Xây dựng chuyên ngành quan hệ đối ngoại phật giáo, https://thuvienhoasen.org/a34977/phat-hoc-viet-nam-thoi-hien-dai-xay-dung-chuyen-nganh-quan-he-doi-ngoai-phat-giao






Bình luận (0)